Vận dụng kỹ thuật khai thác dữ liệu để phân tích một cách hệ thống quy luật sử dụng thuốc trong điều trị lâm sàng bệnh tăng huyết áp, qua đó tổng kết đặc điểm dùng thuốc và kinh nghiệm biện chứng luận trị
Phương pháp: Thu thập dữ liệu đơn thuốc của các bệnh nhân tăng huyết áp trong khoảng thời gian từ ngày 01/9/2021 đến ngày 01/9/2022. Sử dụng nền tảng đám mây y án cổ kim để tiến hành phân tích thống kê về tần suất dùng thuốc, tính vị – quy kinh và các yếu tố chứng (chứng tố); đồng thời thực hiện phân cụm phân cấp, phân tích luật kết hợp và phân tích mạng phức hợp đối với dữ liệu dùng thuốc.
Kết quả: Tổng cộng đưa vào phân tích 263 y án, tương ứng với 263 bệnh nhân và 263 đơn thuốc, bao gồm 106 vị thuốc. Mười vị thuốc có tần suất sử dụng cao nhất lần lượt là: Đan sâm, Bạch truật, Bán hạ và Phục thần. Các thuốc chủ yếu có tính bình, ôn; vị ngọt, đắng, cay; phần lớn quy vào hai kinh Can và Thận. Phân tích luật kết hợp cho thấy các cặp thuốc được sử dụng với tần suất cao gồm Đan sâm – Sơn du nhục, Sơn dược – phân tích phân cụm phân cấp cho ra 4 nhóm cụm thuốc. Phân tích mạng phức hợp xác định bài thuốc cốt lõi gồm: Thiên ma, Bạch truật, Sơn du nhục, Sơn dược,
Nội dung chi tiết các bài thuốc tại đây
https://docs.google.com/spreadsheets/d/1I8axzEbUhi2LZHjKd2jdLWIzpAUhchMGzMFutHPghIM/edit?gid=65267270#gid=65267270
Kết luận: Trong điều trị bệnh tăng huyết áp, chủ yếu áp dụng các pháp trị như thẩm thấp hóa đàm, hoạt huyết hóa ứ, tư bổ can thận, điều hòa tâm – thần; đồng thời chú trọng điều trị cả tiêu và bản, kiêm cố hư và thực, linh hoạt gia giảm thuốc theo tình trạng bệnh cụ thể của từng người bệnh. Nghiên cứu này, thông qua việc phân tích quy luật dùng thuốc trong đơn phương của danh y, góp phần cung cấp cơ sở tham khảo và gợi ý cho thực hành lâm sàng điều trị bệnh tăng huyết áp.
1. Mở đầu
Bệnh tăng huyết áp là một trong những vấn đề y tế công cộng mang tính thách thức lớn nhất trên toàn cầu, đồng thời cũng là một trong những bệnh mạn tính có tỷ lệ mắc cao nhất tại nước ta. Về lâm sàng, bệnh biểu hiện chủ yếu bằng tình trạng tăng áp lực động mạch hệ thống. Theo các số liệu điều tra gần đây, số người trưởng thành mắc bệnh tăng huyết áp cực cao. Tăng huyết áp đã trở thành một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng, gây gánh nặng lớn cho gia đình người bệnh và toàn xã hội.
Bên cạnh đó, trong nhóm dân số từ 18 tuổi trở lên mắc tăng huyết áp, tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ được điều trị và tỷ lệ kiểm soát huyết áp còn ở mức thấp. Điều này cho thấy số lượng người mắc tăng huyết áp rất lớn, song hiệu quả kiểm soát bệnh chưa cao. Y học hiện đại thông qua việc sử dụng thuốc đơn trị hoặc phối hợp có thể làm giảm huyết áp ở một mức độ nhất định, tuy nhiên việc sử dụng thuốc kéo dài dễ dẫn đến nhiều tác dụng không mong muốn.
Cùng với sự phát triển của nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy y học cổ truyền không chỉ có tác dụng hạ huyết áp một cách ổn định, cải thiện triệu chứng lâm sàng, mà còn có khả năng phòng ngừa sự xuất hiện của bệnh cũng như hạn chế tổn thương các cơ quan đích như tim, não và thận do huyết áp tăng cao gây ra, với tác dụng phụ tương đối ít. Vì vậy, y học cổ truyền có những ưu thế đặc thù trong công tác phòng và điều trị bệnh tăng huyết áp.
2. Tư liệu và phương pháp
2.1. Nguồn ca bệnh
Các ca bệnh được thu thập từ những bệnh nhân tăng huyết áp trong khoảng thời gian từ ngày 01/9/2021 đến ngày 01/9/2022.
2.2. Lựa chọn ca bệnh
2.2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán được tham khảo theo Hướng dẫn phòng và điều trị tăng huyết áp .
2.2.2. Tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu
① Hồ sơ y án có ghi chép rõ ràng và phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tăng huyết áp;
② Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đầy đủ thông tin cơ bản như họ tên, giới tính, tuổi;
③ Chỉ lấy lần khám đầu tiên của bệnh nhân, điều trị bằng thang thuốc y học cổ truyền, đồng thời tên thuốc và liều lượng trong đơn đều được ghi chép rõ ràng.
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ
① Không đáp ứng tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu;
② Có chẩn đoán xác định kèm theo các bệnh lý khác;
③ Phụ nữ đang mang thai, có kế hoạch mang thai hoặc đang trong thời kỳ cho con bú;
④ Chẩn đoán và đơn thuốc không tương ứng (do người hướng dẫn quyết định).
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phần mềm phân tích
Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng excel
2.3.2. Thu thập và xử lý dữ liệu
Thu thập hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân tăng huyết áp Các ca bệnh được sàng lọc theo tiêu chuẩn đưa vào và loại trừ. Thông tin bệnh án được nhập liệu theo phương pháp hai người nhập độc lập, sử dụng mẫu Excel do nền tảng đám mây y án cổ kim cung cấp, sau đó tiến hành đối chiếu và hiệu chỉnh.
3. Kết quả
3.1. Thông tin cơ bản của ca bệnh
Tổng cộng thu thập được 715 trường hợp bệnh tăng huyết áp. Sau khi sàng lọc theo tiêu chuẩn đưa vào và loại trừ, chọn được 263 trường hợp đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu, trong đó có 134 nam, chiếm 50,95% tổng số ca, và 129 nữ, chiếm 49,05%. Độ tuổi khởi phát bệnh chủ yếu tập trung trong khoảng từ 40 đến 79 tuổi. Tổng số đơn thuốc được phân tích là 263 đơn.
3.2. Tần suất sử dụng thuốc YHCT
Trong 263 đơn thuốc, có sử dụng 106 vị thuốc khác nhau, với tổng số lượt sử dụng thuốc là 3.191 lần. Khi sắp xếp theo thứ tự tần suất giảm dần, có 9 vị thuốc được sử dụng với tần suất trên 200 lần, bao gồm: Đan sâm, Sơn du nhục, Tang ký sinh, Sơn dược, Thiên ma, Ngưu tất, Xuyên khung, Bạch truật và Bán hạ. Tần suất và tỷ lệ sử dụng của 20 vị thuốc đứng đầu (tỷ lệ = tần suất/3.191 × 100%)
4.Thống kê
Áp dụng phương pháp tần suất để thống kê sự phân bố các yếu tố chứng trong bệnh tăng huyết áp. Các yếu tố chứng của bệnh tăng huyết áp về mặt vị trí bệnh chủ yếu liên quan đến Thận, Can, Tỳ, Tâm, Trung tiêu và Phế, trong đó Thận và Can chiếm tỷ lệ cao nhất. Về tính chất bệnh, các yếu tố chủ yếu là đàm, huyết ứ và hư; ngoài ra còn liên quan đến khí hư, thấp, âm hư, dương khang, nhiệt, phong và thủy đình.
tính vị của 106 vị thuốc được sử dụng trong 263 đơn thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp cho thấy: về dược tính, thuốc có tính bình được sử dụng nhiều nhất với 1.312 lượt (chiếm 41,12%), tiếp theo là tính ôn với 712 lượt (22,31%), tính lương với 360 lượt (11,28%), vi ôn với 337 lượt (10,56%), vi hàn với 291 lượt (9,12%) và hàn với 177 lượt (5,55%).
Về ngũ vị, ba vị được sử dụng nhiều nhất lần lượt là vị ngọt với 2.099 lượt (65,78%), vị đắng với 1.097 lượt (34,38%) và vị cay với 599 lượt (18,77%).
Về quy kinh, năm kinh được quy nhiều nhất là kinh Can với 1.894 lượt (59,35%), tiếp đến là kinh Thận với 1.352 lượt (42,37%), kinh Tỳ với 1.104 lượt (34,60%), kinh Phế với 814 lượt (25,51%) và kinh Tâm với 795 lượt (24,91%).
Tổ hợp bán hạ – bạch truật – thiên ma phối hợp với nhau có tác dụng hóa đàm tức phong, kiện tỳ trừ thấp
Tang ký sinh, ngưu tất, sơn thù du lấy bổ ích can thận làm nguyên tắc, phối thêm sơn dược nhằm điều hòa, bảo hộ ngũ tạng, từ đó tư dưỡng huyết mạch
học thuật điều trị tăng huyết áp theo hướng “thẩm thấp hóa đàm, hoạt huyết hóa ứ, tư bổ can thận”, và đã được ứng dụng lâm sàng với hiệu quả rõ rệt.
5. Ca lâm sàng tiêu biểu
Bệnh nhân Diệp, nữ, 70 tuổi, khám lần đầu ngày 07/09/2021.
Lý do đến khám: Phát hiện huyết áp tăng hơn nửa tháng.
Khoảng nửa tháng trước, bệnh nhân phát hiện huyết áp tăng cao tại bệnh viện cộng đồng địa phương, huyết áp thường dao động trong khoảng 162–186/69–100 mmHg, cao nhất đạt 186/100 mmHg, không có triệu chứng rõ ràng như chóng mặt hay đau đầu. Bệnh nhân được khuyến cáo dùng thuốc hạ áp Tây y lâu dài nhưng từ chối điều trị bằng thuốc Tây. Do lo lắng huyết áp tăng cao có thể gây ra các bệnh thứ phát, bệnh nhân đến điều trị bằng y học cổ truyền.
Khám lúc đến viện: huyết áp 162/94 mmHg; có đổ mồ hôi trộm, lượng vừa phải; không chóng mặt, đau đầu, không tức ngực hồi hộp; ăn uống được; ngủ kém; đại tiểu tiện điều hòa.
Lưỡi – mạch: lưỡi đỏ, rêu ít, tĩnh mạch dưới lưỡi ngoằn ngoèo; mạch huyền tế.
Tiền sử: sức khỏe trước đây bình thường.
Chẩn đoán bệnh nhân tăng huyết áp do can thận hư kết hợp đàm ứ tương kết, bệnh cơ thuộc bản hư tiêu thực. Nguyên tắc điều trị là lấy tư bổ can thận làm chính, hoạt huyết khứ ứ thông lạc làm phụ.
Bài thuốc gồm:
Thục địa hoàng 15 g, sơn thù du 15 g, sơn dược 15 g: tư bổ can thận
Đan sâm 15 g, xuyên khung sao rượu 15 g: hoạt huyết hóa ứ
Tang ký sinh 20 g, ngưu tất 15 g: bổ can thận kiêm khu phong trừ thấp, hoạt huyết hóa ứ, dẫn huyết đi xuống
Trân châu mẫu 20 g, phục thần 20 g, phù tiểu mạch 30 g: điều hòa tâm thần
Gia thiên ma 6 g, câu đằng 15 g: bình can tức phong, thông lạc
Ngày 14/09/2021 (lần khám thứ hai):
Sau khi dùng thuốc, huyết áp giảm nhẹ, dao động 151–175/71–89 mmHg, huyết áp đo tại viện 160/85 mmHg. Không còn ra mồ hôi, không chóng mặt, đau đầu, không tức ngực hồi hộp; ăn uống bình thường; giấc ngủ ban đêm cải thiện so với trước; đại tiểu tiện điều hòa.
Lưỡi – mạch: lưỡi đỏ, rêu hơi dày, tĩnh mạch dưới lưỡi ngoằn ngoèo, mạch huyền tế.
Chẩn đoán như trước.
Do bệnh nhân sinh sống lâu năm khu vực ẩm thấp, dễ hình thành đàm ứ tương kết. So với lần khám đầu, bệnh cơ chuyển từ lấy hư làm chủ sang lấy thực làm chủ, biện chứng là đàm ứ tương kết kiêm can thận hư. Phép trị nên hóa đàm, khứ ứ, thông lạc làm chính; tư bổ can thận làm phụ.
Vì vậy, trên cơ sở bài thuốc lần đầu, bỏ thục địa hoàng và phù tiểu mạch, thêm bán hạ chế và bạch truật nhằm tăng tác dụng hóa đàm, khứ ứ, thông lạc.
Ngày 23/09/2021 (lần khám thứ ba):
Sau khi dùng thuốc, huyết áp giảm ổn định, dao động 140–149/80–92 mmHg, huyết áp đo tại viện 145/80 mmHg; ngủ được; ban đêm ra mồ hôi nhẹ, giảm so với lần khám trước.
Lưỡi – mạch: lưỡi đỏ, rêu hơi dày, mạch huyền tế.
Chẩn đoán như trước.
Thời gian dùng thuốc 20 ngày
Trên cơ sở bài thuốc lần hai, bỏ trân châu mẫu, thêm phù tiểu mạch, với mục đích ninh tâm an thần, cố biểu chỉ hãn.
Sau đó, trong các lần tái khám tiếp theo, huyết áp bệnh nhân dao động trong khoảng 130–145/80–90 mmHg, đôi khi tăng nhẹ khi xúc động hoặc ngủ kém. Bệnh nhân tái khám đều đặn mỗi tháng, bài thuốc được gia giảm theo tình trạng lâm sàng. Từ khi được chẩn đoán tăng huyết áp đến nay, bệnh nhân chưa từng dùng thuốc Tây y, tự đo huyết áp 3 lần/ngày. Huyết áp được kiểm soát ổn định, không có khó chịu đặc biệt.
6. Kết luận
Nghiên cứu này nhằm thông qua việc tìm hiểu quy luật dùng thuốc trong điều trị tăng huyết áp của danh y, cung cấp cơ sở tham khảo và định hướng cho lâm sàng điều trị tăng huyết áp. Thông qua phân tích tần suất dùng thuốc, phân tích tính vị – quy kinh, phân tích chứng tố, phân tích luật liên kết, phân tích phân cụm và phân tích mạng lưới phức tạp đối với các thuốc điều trị tăng huyết áp, kết quả cho thấy y học cổ truyền có những ưu thế riêng trong điều trị tăng huyết áp. Dựa trên thuốc sử dụng để suy đoán bệnh cơ cho thấy, tăng huyết áp thuộc chứng bản hư tiêu thực, trong đó bản hư chủ yếu là can thận bất túc, còn tiêu thực thường là huyết ứ và đàm thấp. Thuốc chủ yếu quy vào kinh Can và Thận.
Trong điều trị lâm sàng, phép trị phần tiêu chủ yếu là hoạt huyết khứ ứ, thông lạc, táo thấp hóa đàm, và xuyên suốt toàn bộ quá trình điều trị tăng huyết áp. dùng thuốc Đông y trên lâm sàng phải biện chứng luận trị theo từng người, từng thời điểm và từng vùng miền, tuyệt đối không được quên gốc của y học cổ truyền.