Thông quản thang điều trị vô sinh do tắc buồng trứng phụ nữ

Y học cổ truyền điều trị vô sinh do tắc vòi trứng, dính tử cung

Kết quả:
Trong tổng số 52 bệnh nhân:

  • Khỏi bệnh: 30 ca mang thai sau 6 tháng
  • Có hiệu quả: 15 ca mang thang sau 12 tháng
  • Không hiệu quả: 7 ca

Tổng tỷ lệ hiệu quả đạt 86,5%.

Đối với tình trạng vòi trứng không thông, các phương pháp điều trị như phẫu thuật xâm lấn tối thiểu tuy có hiệu quả nhất định nhưng chưa hẳn là giải pháp căn bản. Trong khi đó, điều trị bằng Y học cổ truyền với hệ thống lý luận đặc thù, tuy không dựa trên phân tích vi mô hiện đại, nhưng lại có thể đi sâu nắm bắt cơ chế bệnh sinh của tắc vòi trứng, từ đó thông qua các phương thang thích hợp đạt được mục tiêu hoạt huyết hóa ứ, trừ thấp thông lạc, giúp khôi phục sự thông suốt tự nhiên của vòi trứng. Phương pháp này đã mở ra một lựa chọn điều trị mới cho bệnh nhân vô sinh do tắc vòi trứng.

Thông Quản Thang là một phương thuốc Đông y đặc thù, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong điều trị tắc vòi trứng. Tư tưởng chủ đạo của bài thuốc là hoạt huyết hóa ứ, trừ thấp thông lạc, dựa trên sự nhận thức sâu sắc về cơ chế hình thành tắc nghẽn vòi trứng, qua đó giúp phục hồi sự thông suốt sinh lý của vòi trứng. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho giá trị độc đáo của Y học cổ truyền trong điều trị vô sinh do tắc vòi trứng.

Thành phần chính của Thông Quản Thang gồm:

  • Đương quy, Thục địa, Xích thược, Bạch thược (mỗi vị 9g)
  • Xuyên khung
  • Đào nhân 9g, Hồng hoa 9g, Sinh thiên thảo (茜草) 9g
  • Hải phiêu tiêu 12g, Chế hương phụ 12g
  • Lộ lộ thông 9g, Thạch xương bồ 9g
  • và các vị thuốc khác nữa (các vị chính chúng tôi đã che đi giữ bản quyền)

Toàn bộ thành phần đầy đủ bài thuốc https://docs.google.com/spreadsheets/d/1I8axzEbUhi2LZHjKd2jdLWIzpAUhchMGzMFutHPghIM/edit?gid=751898706#gid=751898706

Các vị thuốc phối hợp nhằm hoạt huyết hóa ứ, thanh trừ trở ngại, thông suốt bào lạc. Bài thuốc chủ trị vô sinh do tắc vòi trứng gây ra bởi viêm vùng chậu, đặc biệt thích hợp cho những trường hợp đã được chẩn đoán xác định bằng chụp vòi trứng – tử cung.

Phân tích bệnh cơ và phương nghĩa

Theo quan điểm Y học cổ truyền, bệnh lý này có bệnh cơ chủ yếu là ứ trệ. Trong sách Thạch Thất Bí Lục có ghi: khi giữa mạch Nhâm và mạch Đốc xuất hiện chứng sán hà, tinh khí không thể vận hành thông suốt, nguyên nhân là do trở ngại từ bên ngoài. Sán hà tích tụ, làm bế tắc kinh lạc, khiến tinh khí không thể vận chuyển bình thường, dẫn đến sau hôn nhân không có con.

Do sán hà phần nhiều hình thành từ huyết trệ hoặc huyết ứ, bài thuốc này lấy Đào Hồng Tứ Vật Thang làm cơ sở gia giảm. Tứ Vật Thang vốn có tác dụng dưỡng huyết hoạt huyết, khi gia thêm đào nhân và hồng hoa thì càng thiên về hoạt huyết hóa ứ. Sáu vị thuốc này đều quy vào can kinh, có tác dụng mạnh trong việc hóa ứ trừ trệ.

Tuy nhiên, hoạt huyết tất phải hành khí, để thúc đẩy khí cơ vận hành, từ đó hỗ trợ huyết hành. Vì vậy, phương thuốc gia thêm chế hương phụ, lộ lộ thông, thạch xương bồ nhằm lý khí thông lạc, đồng thời phối hợp tạo giác thích và ý dĩ nhân để tiêu tích, phá trở ngại.

Sự phối ngũ giữa sinh thiên thảo và hải phiêu tiêu bắt nguồn từ phương Tứ Ô Tặc Cốt Nhất Lô Như Hoàn trong Tố Vấn – Phúc Trung Luận, vốn chuyên trị chứng huyết khô kinh bế. Trong đó, lô như chính là thiên thảo, giỏi hoạt huyết hành ứ; còn hải phiêu tiêu có tính mặn ấm, tác dụng nhuyễn kiên tán kết, hỗ trợ tiêu tích thông lạc.

Do bệnh thường kéo dài, nếu dùng thuốc công phá quá mạnh sẽ dễ tổn thương chính khí, vì vậy bài thuốc lựa chọn các vị không quá mãnh liệt nhưng vẫn hiệu quả trong hoạt huyết tiêu tích. Huyết ứ lâu ngày dễ hóa nhiệt, nên gia thêm bại tương thảo và hồng đằng để thanh nhiệt lương huyết, tán ứ thông lạc. Toàn phương chủ yếu tác động vào huyết phận can thận, tiêu trừ ứ trệ một cách từ từ, thích hợp dùng lâu dài.

Gia giảm theo chứng

Trong lâm sàng, cần gia giảm linh hoạt tùy thể chất và biểu hiện cụ thể của người bệnh:

Can khí uất trệ (đau nhói bụng dưới trước kỳ kinh, cáu gắt, mạch huyền, rêu lưỡi mỏng, rìa lưỡi sẫm):
→ Bỏ thục địa, gia Sài hồ, Uất kim để sơ can giải uất.

Thận nguyên hư (đau lưng mỏi gối, đau âm ỉ bụng dưới, kinh có cục, mạch tế nhược):
→ Bỏ hồng đằng, gia Thỏ ty tử, Tiên linh tỳ để bổ thận ích tinh.

Âm hư nội nhiệt (khát, họng khô, đại tiện táo, mạch tế sác, lưỡi đỏ):
→ Bỏ thục địa, gia Sinh địa, Đan bì, Hoàng cầm để dưỡng âm thanh nhiệt.

Hàn ngưng (gần kỳ kinh sợ lạnh, tay chân lạnh, đau bụng thích chườm ấm, mạch tế, lưỡi nhạt):
→ Bỏ bại tương thảo và hồng đằng, gia Quế tâm, Can khương sao, Tiểu hồi hương để ôn kinh tán hàn.

Khi mắc u tuyến cơ tử cung, đừng vừa thấy chữ “thuốc” đã hoảng sợ. Đây là bệnh lý mạn tính do nội mạc tử cung phát triển bất thường, vì vậy việc dùng thuốc không thể tùy tiện.

  1. Mức độ nhẹ:
    Triệu chứng không rõ ràng, như đau lưng nhẹ trong kỳ kinh, ra huyết ít. Có thể ưu tiên dùng thuốc để điều hòa nội tiết, ức chế sự tăng sinh của nội mạc tử cung.
  2. Mức độ trung bình:
    Kèm theo đau bụng kinh rõ rệt, ra huyết nhiều, cần phối hợp thuốc để kiểm soát phản ứng viêm và triệu chứng.
  3. Mức độ nặng:
    Nếu điều trị bằng thuốc hiệu quả kém, cần đánh giá chỉ định phẫu thuật dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

Nếu bạn cần cắt bài thuốc này để chữa vô sinh nữ do tắc vòi trứng, dính tử cung, vui lòng liên hệ

Thạc sĩ Nguyễn Đăng Hải

0936700000

Viết một bình luận