Mạch chẩn 20 kiêm mạch và chủ chứng

PHÙ KHẨN: đau khớp do phong
PHÙ HOÃN: phong hàn thoảng giọt mồ hôi
PHÙ SÁC: phong nhiệt nhớ rồi
PHÙ HOẠT: đàm thấp bệnh thời biểu thôi

TRẦM TRÌ: hàn ở lý rồi
TRẦM KHẨN: hàn lý đồng thời gây đau
TRẦM SÁC: lý nhiệt nhớ mau
TRẦM HOẠT: đàm, tích hay đang có bầu

TRẦM HUYỀN: can uất gây đau
TRẦM SÁP: ứ huyết càng đau hơn nhiều
TRẨM TẾ: biểu hiện âm hư
TRẦM VÀ TẾ SÁC: hư và nhiệt trong

HOẠT SÁC: đàm nhiệt ứ ròng
HỒNG SÁC: nhiệt thịnh ở trong Thận mà
TẾ SÁP: ứ huyết nhớ ra
NHU HOÃN: Tỳ Vị bệnh mà đã lâu

HUYỀN TRÌ: Kinh Can bị đau
HUYỀN KHẨN: Hàn trệ kinh Can đau nhiều
HUYỀN SÁC: Can hỏa nhiệt thiêu
HUYỀN TẾ: Can Thận âm đều hư suy.

TỨ CHẨN: bốn phép dò ra
Nguyên nhân gây bệnh thật là thâm sâu
VỌNG là xem sắc người đau
VĂN là nghe tiếng nói màu thấp cao
VẤN là hỏi chứng làm sao
THIẾT là xem mạch bộ nào thực hư
BÁT CƯƠNG quy nạp từ từ
Biểu lý, hàn nhiệt, thực hư tận tường
Biểu – lý: ngoại cảm – nội thương
Hàn – nhiệt: lạnh – nóng vẫn thường lộ ra
Thực – hư: mạnh – yếu ấy mà
Âm – dương: tổng lĩnh suy ra nạp vào
Âm thì: hàn, lý, hư vào
Dương thì: nhiệt, biểu, thực sao không rành
Lại còn thực – giả nhớ nhanh
Âm hư nội nhiệt phải rành xử phương
Dương hư ngoài biểu lạnh thường (ngoại hàn)
Hạ hàn, thượng nhiệt… luận phương mà dùng

Mạch Khâu tựa cọng hành thôi,
Hai bên chắc chắn, giữa thời rỗng không.
Hỏa xung máu chảy thành dòng,
Âm kinh nhiệt phạm, đỏ hồng tuôn ra.

Khâu là Phù Đại, nhớ nha,
Ở trong rỗng ruột, đừng mà quên tên.
Thốn Khâu huyết ứ ở trên,
Xích Khâu máu hạ, bệnh liền trào tuôn.

Viết một bình luận