Chỉ 1 lý luận điều trị khỏi cả 4 nhóm bệnh/phổ bệnh chính theo toàn bộ vòng đời phụ nữ
1. Đau bụng kinh nguyên phát (原发性痛经)
2. Vô sinh do rối loạn kinh nguyệt (不孕症), hội chứng buồng trứng đa nang
3. Dọa sảy thai (先兆流产)
4. Hội chứng tiền mãn kinh (围绝经期综合征)
Tâm thận đồng trị và bệnh lý toàn vòng đời phụ nữ – thuyết thủy hỏa
Học thuyết truyền thống “thận chủ sinh sản” tuy nhấn mạnh vai trò của thận, nhưng chưa giải thích đầy đủ ảnh hưởng của tâm lý (stress, cảm xúc) lên chức năng sinh sản.
Lý luận trục tâm (não) – thận – tử cung:
– đã xác lập vai trò điều tiết của tâm (não) đối với sinh sản
– đồng thời tạo nền tảng cho phương pháp tâm thận đồng trị
Bản chất của “tâm thận đồng trị” thủy hỏa hòa hợp
Đây là phương pháp điều trị đặc trưng của y học cổ truyền, với mục tiêu:
– điều hòa thủy – hỏa (thận – tâm)
– khôi phục nhịp sinh sản của tử cung
Cơ chế bệnh sinh cốt lõi:
Thận thủy hư dẫn tới tâm hỏa vượng từ đó gây ra rối loạn kinh nguyệt
Tâm dương hư dẫn tới thận không được ôn từ đó có chứng tử cung lạnh hàn
Khi thủy hỏa không giao
-Kinh nguyệt rối loạn
Thai không vững
– Triệu chứng mãn kinh
Theo tây y, đây là đồng bệnh thần kinh – nội tiết, liên quan tới Hạ đồi – tuyến yên – buồng trứng (HPO)
Học thuyết truyền thống “thận chủ sinh sản” tuy nhấn mạnh vai trò chủ đạo của thận khí đối với sinh sản, nhưng chưa thể giải thích một cách hệ thống cơ chế ảnh hưởng của stress tâm lý đối với chức năng sinh sản. Lý luận “trục tâm (não) – thận – tử cung” do Hạ lão đề xuất đã xác lập vị trí điều tiết của tâm (não) đối với chức năng sinh sản, đồng thời cũng cung cấp cơ sở lý luận cho việc mở rộng và ứng dụng phương pháp tâm thận đồng trị.
Tâm thận đồng trị là phương pháp điều trị đặc sắc của Trung y lấy “trục tâm (não) – thận – tử cung” làm hạt nhân lý luận, nhằm thông qua việc điều hòa thủy hỏa giữa tâm và thận, âm dương tương tế, khôi phục nhịp điệu sinh sản có trật tự của tử cung (công năng tàng – tiết). Mấu chốt bệnh cơ nằm ở sự bất giao giữa tâm và thận: thận thủy hư thì tâm hỏa vượng, làm rối loạn xung – nhâm; tâm dương suy thì thận không được ôn dưỡng, tử cung hàn lạnh; thủy hỏa bất tế dẫn đến rối loạn kinh nguyệt, thai nguyên không vững hoặc xuất hiện các triệu chứng mãn kinh. Tinh yếu của phép trị nằm ở việc “giao thông tâm thận”: tư bổ thận thủy để đưa lên nuôi tâm âm, chế ước hư hỏa; ôn dưỡng tâm hỏa để đưa xuống ấm thận dương, trừ bỏ hàn tà, khiến thủy hỏa ký tế, âm dương cân bằng.
Bệnh lý nội tiết sinh sản nữ thể hiện đặc điểm “đồng bệnh thần kinh – nội tiết”. Chức năng sinh sản của nữ do trục hạ đồi – tuyến yên – buồng trứng (HPO) điều tiết; trong đó neuron GnRH ở hạ đồi được xem là điểm khởi đầu điều hòa của trục nội tiết sinh sản, mạng lưới thần kinh – nội tiết điều khiển từ trên xuống duy trì sự ổn định của chức năng nội tiết sinh sản nữ. Sự điều tiết của trục HPO xuyên suốt các giai đoạn trong vòng đời người phụ nữ: ở tuổi dậy thì, trục HPO được hoạt hóa khởi động quá trình trưởng thành sinh dục và ảnh hưởng đến nhịp kinh nguyệt, nếu bất thường sẽ gây kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh; ở tuổi sinh sản, sự dao động theo chu kỳ của hormone do trục HPO duy trì kinh nguyệt và khả năng sinh sản, nếu bất thường có thể gây rối loạn rụng trứng và các bệnh liên quan; trong thai kỳ, trục HPO được tái cấu trúc dưới tác động phản hồi của hormone nhau thai, nếu bất thường dễ dẫn đến không thể sinh nở bình thường; ở giai đoạn tiền mãn kinh, chức năng trục HPO suy giảm, dễ gây ra các biến đổi bệnh lý liên quan đến tình trạng thiếu estrogen. Sự rối loạn của trục HPO không chỉ trực tiếp gây ra các bệnh nội tiết sinh sản như rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, mà còn thông qua sự phân bố rộng rãi của thụ thể estrogen tham gia điều hòa chuyển hóa, tim mạch và cân bằng xương, từ đó cấu thành cơ chế bệnh lý trung tâm của các bệnh trong toàn bộ vòng đời phụ nữ.
Quan điểm chỉnh thể của Trung y cho rằng cơ thể con người là một chỉnh thể hữu cơ, bao gồm “ngũ tạng nhất thể” và “hình – thần nhất thể”. “Trục tâm (não) – thận – tử cung” điều hòa các bệnh phụ khoa chính là biểu hiện của sự cân bằng âm dương sinh sản nữ và sự thống nhất tạng phủ trong góc nhìn chỉnh thể; trên cơ sở đó, kinh nguyệt, thụ thai, thai sản diễn ra bình thường, thân tâm khỏe mạnh, từ đó đạt được trạng thái “hình thần hợp nhất”, thể hiện rõ quan điểm chỉnh thể của Trung y.
Mặc dù trục HPO của y học hiện đại và “trục tâm (não) – thận – tử cung” của Trung y có khung lý luận khác nhau, nhưng ở phương diện điều hòa chức năng sinh sản lại có sự tương hợp cao: hạ đồi với vai trò trung tâm thần kinh – nội tiết có nét tương đồng với quan niệm “tâm chủ thần minh” trong Trung y; trục tuyến yên – tuyến sinh dục chủ đạo sự bài tiết hormone sinh dục tương ứng với quan niệm “thận chủ sinh sản” trong Trung y; còn tử cung và buồng trứng với tư cách là cơ quan hiệu ứng tương ứng với hệ thống xung – nhâm, bào cung trong Trung y. Tuy nhiên, ưu thế của lý luận “trục tâm (não) – thận – tử cung” nằm ở chỗ: không chỉ giải thích các chức năng sinh lý sinh sản mà trục sinh sản hiện đại đề cập, mà còn bao hàm tư tưởng “tâm thận đồng trị”, vượt qua hạn chế của mô hình điều hòa đơn trục.
Xét về phương pháp điều trị, điều trị hormone trong Tây y phần lớn tập trung vào mục tiêu cục bộ, dễ gây mất cân bằng trục phản hồi; trong khi đó, tâm thận đồng trị có ưu thế điều chỉnh cân bằng động: lấy nguyên tắc thủy hỏa ký tế làm trung tâm, thông qua tư bổ thận thủy để nuôi tâm âm, ôn dưỡng tâm hỏa để ấm thận dương, từ đó đạt trạng thái ổn định của trục sinh sản. Ngoài ra, y học hiện đại trong điều chỉnh trục HPO chưa chú trọng đến can thiệp về mặt cảm xúc; còn tâm thận đồng trị thì kết hợp đồng thời “điều tâm thần để thư giải can uất” và “cố thận tinh để nuôi dưỡng hình thể”, trực tiếp can thiệp vào cơ chế đồng bệnh giữa stress tâm lý và rối loạn chức năng sinh sản, đạt được sự điều hòa cả hình và thần. Tâm thận đồng trị không phải là sự mô phỏng đơn giản trục sinh sản hiện đại, mà là tái cấu trúc điều hòa sinh sản trên nền tảng thống nhất giữa tạng phủ và hình – thần, lấy trạng thái ổn định của tâm thận tương giao làm mục tiêu điều trị, từ đó hình thành can thiệp liên tục xuyên suốt toàn bộ vòng đời phụ nữ.
Trong thực hành lâm sàng, tâm thận đồng trị có thể được áp dụng xuyên suốt trong điều trị các bệnh lý ở mọi giai đoạn của vòng đời phụ nữ. Kinh nguyệt, thai nghén và quá trình lão hóa trải dài từ tuổi dậy thì, tuổi sinh sản đến giai đoạn tiền mãn kinh; do đó cần căn cứ đặc điểm sinh lý từng giai đoạn để thực hiện điều trị cá thể hóa: ở tuổi dậy thì, thông qua điều tâm an thần để thiết lập chu kỳ kinh bình thường; ở tuổi sinh sản, thông qua điều hòa tâm – thận để duy trì chức năng sinh sản; ở giai đoạn tiền mãn kinh, thông qua tư thận thanh tâm để chuyển tiếp ổn định. Trong điều hòa chu kỳ kinh nguyệt, giai đoạn sau kinh lấy tư bổ thận âm làm chủ, phối hợp an tâm; giai đoạn giữa kỳ kinh lấy bổ thận hoạt huyết, an thần; giai đoạn trước kinh lấy ôn thận dương, sơ can giải uất; giai đoạn hành kinh lấy hoạt huyết điều kinh, an thần.
Tâm thận đồng trị đã vượt qua mô hình điều chỉnh đơn hướng lấy thận làm gốc truyền thống, xây dựng hệ thống điều hòa hai chiều giữa tâm và thận; đồng thời có tính phổ quát xuyên suốt theo trục thời gian của toàn bộ vòng đời phụ nữ, qua đó thực hiện sự dung hợp hữu cơ giữa lý luận Đông – Tây y trong điều hòa sinh sản.
Đau bụng kinh nguyên phát là một bệnh phụ khoa quan trọng gây phiền toái cho nữ giới tuổi dậy thì; các nghiên cứu đã chứng thực đây là yếu tố nguy cơ của lạc nội mạc tử cung [7]. Điều trị đau bụng kinh nguyên phát không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của nữ giới tuổi dậy thì mà còn có thể ngăn chặn sự tiến triển thành lạc nội mạc tử cung.
《Tố Vấn》 viết: “诸痛痒疮皆属于心” (mọi chứng đau ngứa đều thuộc về tâm) [8], từ đó thiết lập mối liên hệ lý luận giữa chứng đau và tạng tâm; đồng thời kinh huyết tàng tiết ở tử cung lại không thể tách rời thận, vì vậy tuy vị trí bệnh của đau bụng kinh biểu hiện ở tử cung, nhưng thực chất thông qua xung – nhâm liên hệ với tâm và thận, do đó cần coi trọng điều trị cả hai tạng tâm và thận.
Phụ thân của tác giả là ông Chu Thiếu Bá, truyền nhân đời thứ tư của Mạnh Hà Mã thị, trong điều trị đau do hàn thấp lưu trú rất chú trọng ôn kinh thông lạc; trên cơ sở cải biên bài Dương Hòa Thang đã sáng lập phương “phụ khoa ôn thông phương”. Bài dùng các vị như sài hồ, xích thược, bạch thược, độc hoạt, đương quy, chỉ thực, tần giao, nhũ hương, xuyên ngưu tất, tang ký sinh, đan bì… gia giảm theo chứng có thể điều trị các chứng đau bụng do hàn ngưng, bao gồm đau bụng kinh. Trong đó độc hoạt, ngưu tất, tang ký sinh nhập kinh thận để bổ thận thông kinh; đan bì nhập tâm kinh để thanh tâm hoạt huyết; đồng thời dùng thuốc lý khí để thông đạt tâm – thận trên dưới, thể hiện tư tưởng đưa pháp tâm thận đồng trị vào trong ôn dương thông mạch để điều trị đau bụng kinh do hàn ngưng huyết ứ.
Dưới ảnh hưởng học thuật của thế hệ trước, tác giả tiếp tục nghiên cứu mối liên hệ giữa tâm (não) và đau bụng kinh. Tâm chủ thần minh, chi phối hoạt động tinh thần ý thức của con người, từ phương diện tinh thần điều tiết sự biến đổi chu kỳ của tử cung [9]; tâm chủ huyết mạch, trong đau bụng kinh dù là khí trệ huyết ứ hay khí huyết lưỡng hư đều liên quan đến sự thúc đẩy của tâm khí, do đó điều trị từ tâm chủ yếu thể hiện ở hai mặt điều chỉnh tinh thần và điều hòa vận hành khí huyết.
Ngoài ra, trong học thuyết điều chu kỳ của Hạ lão, thời kỳ giữa chu kỳ (kỳ rụng trứng) được xem là giai đoạn quan trọng để điều trị đau bụng kinh; giai đoạn này âm phát triển đến cực điểm. Hạ lão chỉ ra rằng quá trình chuyển hóa từ âm thịnh sang dương của giai đoạn này phụ thuộc vào điều tâm; tâm tĩnh thì thận thực, tâm thận giao hòa, thủy hỏa tương tế, từ đó đạt được quá trình rụng trứng, tạo nền tảng cho dương khí phát triển thuận lợi trước kỳ kinh và đảm bảo kinh nguyệt thông suốt
Thận dương là gốc của toàn thân dương khí, có tác dụng ôn ấm, sinh phát, khí hóa, tàng trữ và chế ước âm hàn. Khi thận dương hư, cơ thể mất sự ôn dưỡng, khí huyết tinh dịch sinh hóa không đủ, vận hành trì trệ, ứ trệ ở bào lạc, không được nuôi dưỡng thì gây đau. Thận dương hư không thể ôn kinh thông mạch, dẫn đến huyết ứ khí trệ; hoặc khi hành kinh gặp lạnh; hoặc trong lúc kinh chưa sạch mà giao hợp, khiến huyết dư và dịch đục lưu lại ở bào mạch bào lạc, gây ứ trệ mà đau. Thận hư và huyết ứ thường ảnh hưởng lẫn nhau. Vì vậy, đau bụng kinh thường lấy thận dương hư làm gốc, huyết ứ khí trệ làm biểu.
Trước kỳ kinh, dương khí không đạt đến cực thịnh, không thể ôn kinh thông mạch, dẫn đến huyết ứ. Thận hư, huyết ứ, khí trệ, “bất thông tắc thống”, vì vậy điều trị đau bụng kinh cần chú trọng giai đoạn trước kỳ kinh, ôn bổ thận dương, hóa ứ thông lạc, an tâm chỉ thống.
Dựa trên cơ chế bệnh này và lý luận tâm thận đồng trị, tác giả sáng lập bài “ôn kinh chỉ thống phương”, gồm các vị: nhục quế, lộc giác, hoài sơn, đan sâm, tam lăng, nga truật, hương phụ, ngải diệp, tiểu hồi hương, cát căn. Trong đó nhục quế bổ hỏa trợ dương, dẫn hỏa quy nguyên, ôn kinh thông mạch, tán hàn chỉ thống; lộc giác bổ thận dương, tán ứ huyết, hai vị phối hợp làm quân dược để ôn bổ thận dương, thông mạch chỉ thống. Hoài sơn tính bình nhuận, bổ thận ích tinh, kiện tỳ ích khí, vừa tăng cường công năng của quân dược vừa khiến ôn mà không táo, bổ mà không trệ, làm thần dược.
Đan sâm có công tương đương tứ vật, hoạt huyết điều kinh, khứ ứ chỉ thống, lại có tính hơi hàn, có thể hạn chế tính ôn táo của quân dược; phối hợp với tam lăng, nga truật phá huyết hành khí, tiêu tích chỉ thống, làm tá dược. Hương phụ sơ can giải uất, điều kinh chỉ thống; ngải diệp tính ấm, tán hàn chỉ thống, ôn cung trợ thai; tiểu hồi hương ôn thận ấm can, hành khí chỉ thống; cát căn giải cơ sinh tân, thông kinh hoạt lạc, các vị này làm sứ dược để tăng hiệu quả lý khí tán hàn, thông kinh chỉ thống. Đan sâm thông tâm mạch, hương phụ thư đạt khí cơ tâm can. Các vị phối hợp, hàn nhiệt cùng dùng, bổ tán kết hợp, cùng đạt công năng ôn bổ thận dương, hóa ứ thông lạc, an tâm chỉ thống.
Đau bụng kinh nguyên phát thường gặp ở nữ giới tuổi dậy thì; do thiên quý chưa chín, thận khí chưa vững, thể chất chưa đầy đủ, dễ bị hàn tà xâm nhập tử cung, vì vậy điều trị lấy ôn thận dương, làm ấm tử cung làm chính. Đồng thời, thận khí hư làm khí huyết vận hành trì trệ, dồn ứ lên tâm can; cộng thêm áp lực học tập khiến dễ uất kết, gây khí trệ tâm can; tâm lý sợ đau khi mới có kinh càng làm khí nghịch nặng hơn. Vì vậy đau bụng kinh ở tuổi dậy thì có cả hai cơ chế “bất thông tắc thống” và “bất vinh tắc thống”. Khi điều trị cần vừa ôn thận ấm cung, vừa an tâm sơ can mới có thể giảm đau.
Việc sử dụng thuốc lý khí giúp thông đạt tâm thận, khiến xung – nhâm thông suốt, khí huyết tử cung lưu thông, kinh nguyệt ra thuận lợi, đau được giảm. Do đó, giảm đau bụng kinh cũng làm giảm nỗi sợ hãi và áp lực của bệnh nhân, giảm ảnh hưởng đến học tập và sinh hoạt. Trong thực hành lâm sàng, phương thuốc trên không chỉ dùng cho tuổi dậy thì mà còn có hiệu quả với đau bụng kinh nguyên phát ở mọi lứa tuổi, cũng như đau bụng do di chứng viêm vùng chậu, lạc nội mạc tử cung… Đặc biệt, đối với lạc nội mạc tử cung, tác giả cho rằng bệnh cơ lấy huyết ứ làm tiêu, thận hư làm bản, thiên về thận dương hư, do hư sinh ứ; điều trị cần ôn dương hoạt huyết đồng thời chú trọng an tâm sơ can, tương tự như điều trị đau bụng kinh nguyên phát.
不孕症:交通心肾,调经助孕
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thường bị vô sinh do rối loạn kinh nguyệt. Theo số liệu của WHO, khoảng 25% các trường hợp vô sinh liên quan đến rối loạn rụng trứng, đây cũng là trọng điểm và khó điểm trong điều trị nội tiết sinh sản của cả Đông và Tây y. Ngoài ra, có báo cáo cho thấy ngay lần khám đầu tiên, đã có 40% phụ nữ vô sinh được chẩn đoán mắc lo âu, trầm cảm hoặc cả hai, vì vậy vô sinh không chỉ là bệnh lý sinh lý sinh sản mà còn là bệnh lý tâm – thân kết hợp.
Cảm xúc lo âu, trầm cảm làm can mất chức năng sơ tiết, từ đó dẫn đến rối loạn chức năng tạng phủ và cuối cùng gây vô sinh. Đây là một vấn đề quan trọng liên quan giữa sinh lý sinh sản và tình chí. Tâm là chủ của ngũ tạng lục phủ, chủ thần minh, có quan hệ mật thiết với đại não, lại chủ huyết mạch nên liên quan trực tiếp đến vận hành kinh huyết.
Qua gần 40 năm thực hành lâm sàng, tác giả nhận thấy trong bốn giai đoạn của chu kỳ kinh, hai giai đoạn quan trọng nhất ảnh hưởng đến nhịp điệu chu kỳ là giai đoạn sau kinh và trước kinh. Giai đoạn sau kinh là giai đoạn âm tăng trưởng, do kinh huyết vừa thoát ra, tử cung và bào mạch trở nên trống rỗng, thận âm thận tinh thiếu hụt, không thể thăng lên nuôi tâm, khiến tâm mất sự nuôi dưỡng. Khi thận âm dần phục hồi, nội mạc tử cung phát triển, thăng lên nuôi tâm, tâm thận giao hòa, thủy hỏa ký tế, âm dương tương căn, thận âm phát triển đến cực điểm sinh tinh; dưới sự điều khiển của tâm (não), tinh hóa khí, âm chuyển thành dương, nhờ dương khí thúc đẩy mà phóng noãn, chuyển sang giai đoạn dương tăng trưởng. Đây chính là thời kỳ rụng trứng, cũng là thời điểm thụ thai tốt nhất.
Nếu do thức khuya kéo dài, lo âu trầm cảm, phòng dục quá độ hoặc sinh nhiều khiến thận tinh hao tổn, âm không đủ, tâm thần không được nuôi dưỡng, làm mất sự điều khiển của tâm (não), huyết hải không đầy, nội mạc tử cung không phát triển (niêm mạc mỏng), trứng không chín, khó chuyển hóa, từ đó khó thụ thai. Vì vậy điều trị giai đoạn sau kinh cần chú trọng bổ thận tinh, dưỡng tâm thận.
Tác giả sáng lập bài “dưỡng tâm điện cơ phương”, gồm các vị: quy bản chích, miết giáp chích, thục địa hoàng, bạch thược sao, đương quy tẩm rượu, xuyên khung, toan táo nhân, tri mẫu chích, phục linh, đảng sâm sao. Uống từ ngày thứ 5 của chu kỳ đến khi rụng trứng. Trong đó quy bản, miết giáp là quân dược, quy vào can thận, có tác dụng bổ tinh tủy, dưỡng âm huyết, đại bổ thận thủy; đương quy, xuyên khung, địa hoàng, bạch thược dưỡng huyết dưỡng tâm, tư thận dưỡng âm, làm đầy huyết hải tử cung; toan táo nhân dưỡng tâm an thần, tri mẫu thanh nhiệt trừ phiền; thêm phục linh, đảng sâm kiện tỳ ích khí để sinh huyết mà không gây trệ. Các vị phối hợp giúp ích âm dưỡng huyết, điều hòa xung nhâm, giao thông tâm thận.
Phương này có tác dụng thúc đẩy sự tăng sinh nội mạc tử cung và phát triển nang noãn trong giai đoạn sau kinh, cải thiện môi trường nội mạc tử cung, nâng cao khả năng tiếp nhận của nội mạc, từ đó giúp phôi làm tổ. Đối với các trường hợp nội mạc tử cung mỏng, nang noãn phát triển kém do thức khuya, stress hoặc sinh nhiều, phương này có hiệu quả lâm sàng tốt.
Giai đoạn trước kinh là giai đoạn dương tăng trưởng. Khi dương đạt cực thịnh, âm dương đều đầy đủ, tử cung được ôn ấm, tinh huyết sung túc, nội mạc dày, kinh nguyệt bình thường, thuận lợi cho thụ thai. Nếu thận dương hư, không thể nâng đỡ tâm dương và sơ tiết can khí, sẽ dẫn đến can khí uất hoặc can hỏa vượng, gây rối loạn kinh nguyệt, đau lưng, sợ lạnh, căng ngực trước kinh, dễ cáu gắt, đau bụng kinh, vô sinh hoặc sảy thai.
Có thể dùng bài “bổ thận trợ thai phương”, gồm: lộc giác phiến, tử thạch anh, sài hồ, hoài sơn, thỏ ty tử, đan sâm, sơn thù du tẩm rượu, bạch thược sao. Uống từ sau rụng trứng đến trước kỳ kinh. Trong đó tử thạch anh và lộc giác phiến ôn thận trợ dương là quân dược; thỏ ty tử, bạch thược, sơn thù du, hoài sơn bổ can thận âm tinh là thần dược; sài hồ sơ can giải uất, đan sâm hoạt huyết an thần làm tá dược.
Phương này dùng trong giai đoạn trước kinh có tác dụng giúp dương đạt cực thịnh, an tâm định thần. Giai đoạn sau kinh bổ thận dưỡng tâm giúp âm đạt cực thịnh, giai đoạn trước kinh ôn thận an tâm giúp dương đạt cực thịnh, tạo thành điều trị tuần tự tâm thận đồng trị, từ đó điều hòa cân bằng âm dương của trục tâm – thận – tử cung, điều chỉnh chu kỳ kinh, thúc đẩy làm tổ của phôi, nâng cao tỷ lệ mang thai.
Thực nghiệm cho thấy phương này có thể tác động trực tiếp lên buồng trứng, điều hòa con đường tín hiệu apoptosis của tế bào hoàng thể, cải thiện chức năng hoàng thể, nâng cao khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung và thúc đẩy làm tổ của trứng đã thụ tinh.
先兆流产:聚焦心肾,稳固胎元
Trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng buồng trứng đa nang kèm dọa sảy thai, thận hư đã được chú ý, nhưng do tử cung liên thông với tâm và thận nên điều trị không chỉ tập trung vào thận mà cần tâm thận đồng trị; điều này cũng có thể áp dụng cho các bệnh liên quan đến dọa sảy thai khác.
Sau khi mang thai, tử cung cần được sự hỗ trợ của thận khí, thận âm và thận dương mới có thể giữ vững thai nguyên. Thận khí hư khiến chức năng cố giữ của tử cung suy yếu; thận dương hư khiến tử cung mất sự ôn ấm; thận âm hư khiến huyết hải không đầy; âm hư hỏa vượng làm tổn thương mạch lạc gây xuất huyết; thận hư kèm ứ trệ làm rối loạn vận chuyển tân dịch… tất cả đều có thể dẫn đến tử cung không giữ được thai, thai không được nuôi dưỡng, gây thai lậu, thai động bất an hoặc sảy thai.
Bào mạch và bào lạc trên liên hệ với tâm, dưới liên hệ với thận, nên chức năng cố giữ của tử cung liên quan chặt chẽ với tâm thận. Sau khi mang thai, âm huyết tập trung nuôi thai, tâm mất sự nuôi dưỡng, tâm hỏa dễ vượng; thêm tâm lý lo lắng cầu con khiến mất ngủ, làm tâm thận không giao, thai không được nuôi dưỡng, dẫn đến thai động bất an hoặc sảy thai.
Do đó, thận hư làm thai không có chỗ bám, huyết hư làm thai không được nuôi, tâm hỏa vượng làm tâm thận mất cân bằng — đây là cơ chế quan trọng gây dọa sảy thai. Vì vậy, phép trị chủ yếu là bổ thận, an tâm, dưỡng huyết, an thai.
Nhóm nghiên cứu sáng lập bài “ích thận an thai phương”, dùng từ khi có thai đến tuần 10–12, gồm các vị: tục đoạn, tang ký sinh, thỏ ty tử, hoàng cầm sao, câu đằng… Trong đó tục đoạn, tang ký sinh, thỏ ty tử bổ can thận, mạnh gân cốt, an thai; hoàng cầm, câu đằng thanh tâm hỏa, an thần. Các vị phối hợp đạt hiệu quả tâm thận đồng trị, bổ khí huyết, ổn định thai.
Vì vậy, trong an thai cần tập trung vào tâm thận để củng cố thai nguyên.
绝经综合征:滋肾养血,柔肝舒心
Cùng với sự gia tăng tuổi thọ, phụ nữ có hơn một phần ba cuộc đời sống trong giai đoạn sau mãn kinh. Vì vậy, quản lý sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật liên quan đến thời kỳ quanh mãn kinh đã trở thành một vấn đề y tế công cộng quan trọng.
Hội chứng quanh mãn kinh là tập hợp các triệu chứng phát sinh do suy giảm chức năng buồng trứng và mất cân bằng hormone; y học cổ truyền có hiệu quả tốt trong việc giảm nhẹ triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Cơ chế bệnh sinh theo Trung y của hội chứng này không chỉ là thận hư mà còn liên quan mật thiết đến rối loạn chức năng của tâm, can và thận.
Ở phụ nữ vào tuổi “thất thất”, thiên quý sắp cạn, âm tinh của can thận hao tổn, không thể thăng lên nuôi tâm, khiến tâm hỏa thiên vượng; đồng thời không thể nhu dưỡng can mộc, làm can khí thiên vượng. Tâm thận không giao, thủy hỏa không điều hòa, từ đó xuất hiện các triệu chứng như bốc hỏa, ra mồ hôi, hồi hộp, mất ngủ, phiền táo, trầm uất. Gốc bệnh ở thận, biểu hiện ở tâm và can, nên phép trị là tư thận ích tinh, thư tâm an thần.
Nhóm nghiên cứu sáng lập bài “tư thận thư tâm phương”, gồm các vị: quy bản chích, miết giáp chích, thục địa hoàng, sơn thù du, câu đằng, liên tử tâm, thanh long xỉ, long cốt nung, mẫu lệ nung, đương quy, bạch thược, uất kim, đan sâm… có thể cải thiện các triệu chứng quanh mãn kinh. Trong phương, quy bản chích, miết giáp chích, thục địa hoàng, sơn thù du là quân dược; quy bản, miết giáp là huyết nhục hữu tình chi phẩm, đại bổ thận tinh; thục địa, sơn thù quy kinh can thận, có tác dụng bổ huyết dưỡng âm, ích tinh tủy, các vị phối hợp để trị gốc bệnh.
Câu đằng, liên tử tâm, thanh long xỉ, long cốt nung, mẫu lệ nung là thần dược; câu đằng, liên tử tâm thanh tâm an thần; thanh long xỉ, long cốt, mẫu lệ quy kinh tâm can, trấn tâm an thần đồng thời thanh can, khiến tâm hỏa không vượng, can hỏa không bốc, phối hợp với quân dược để bổ can thận, giao thông tâm thận, tiêu bản đồng trị.
Đương quy, bạch thược, uất kim, đan sâm là tá dược, có tác dụng dưỡng huyết nhu can, thanh tâm an thần, hỗ trợ quân và thần dược điều hòa tâm thận. Bạch truật, phục linh kiện tỳ an tâm, giúp vận hóa, an định thần chí. Các vị phối hợp giúp điều trị đồng thời tâm và thận, điều hòa can và tỳ, bổ tinh ích tủy, thư tâm trợ vận.
结语
Sức khỏe toàn bộ vòng đời của phụ nữ là mục tiêu thực hành của lý luận “tâm thận đồng trị”. Lý luận này kế thừa từ kinh điển cổ đại, lấy học thuyết “trục tâm (não) – thận – tử cung” của Hạ lão làm nền tảng, đồng thời được hình thành qua nhiều thập kỷ tích lũy kinh nghiệm lâm sàng và kết hợp với nhu cầu của y học hiện đại.
Đối với thống kinh nguyên phát, nên ôn thận hóa ứ, an tâm chỉ thống, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng phát dục của nữ giới tuổi dậy thì, đồng thời có lợi đối với các bệnh khó trị như lạc nội mạc tử cung và đau vùng chậu mạn tính.
Đối với vô sinh do rối loạn kinh nguyệt, cần điều kinh trợ thai, phân kỳ luận trị: giai đoạn sau kinh tư thận dưỡng tâm, thúc đẩy sự phát triển nội mạc tử cung và sự trưởng thành của nang noãn; giai đoạn trước kinh ôn thận trấn tâm, nhằm nâng cao khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung.
Đối với dọa sảy thai, cần chú trọng bổ thận an tâm, dưỡng huyết an thai trong suốt thai kỳ.
Đối với hội chứng quanh mãn kinh, cần tư thận ích tinh, thư tâm an thần, điều hòa âm dương để chuyển tiếp ổn định sang giai đoạn tuổi già.
Những lý luận trên lấy quan điểm tâm thận của Trung y làm chỉ đạo, lấy tâm thận đồng trị làm nguyên tắc, từ đó xây dựng hệ thống hoàn chỉnh về quản lý sức khỏe phụ nữ bằng Trung y, bao gồm điều trị hai giai đoạn của chu kỳ kinh, chẩn trị hai giai đoạn trước và sau mang thai, và quản lý ba giai đoạn trong toàn bộ vòng đời phụ nữ.
Việc kết hợp Trung y trong quản lý sức khỏe toàn vòng đời phụ nữ phù hợp với xu hướng phát triển của y học hiện đại. Tư tưởng tâm thận đồng trị phản ánh mô hình “sinh học – y học – tâm lý – xã hội” dưới góc nhìn chỉnh thể của Trung y, mang tính thời đại, tính tiên phong và tính thực tiễn, nhằm thúc đẩy sức khỏe thể chất và tinh thần của phụ nữ, hướng tới sống khỏe và trường thọ.