Thảo mộc trào ngược dạ dày thực quản viêm loét tá tràng

Thảo mộc trào ngược dạ dày thực quản viêm loét tá tràng ID#596
Khi thanh toán bấm vào biểu tượng giỏ hàng dưới cùng
  • Cam kết hàng chính hãng 100%
  • Cam kết đổi trả nếu không đúng hàng, sản phẩm lỗi, không hài lòng
  • Giao hàng tận nhà nếu bạn có nhu cầu, dịch vụ hoàn hảo
Share:

Viêm loét dạ dày tá tràng là gì ?

Viêm dạ dày và tá tràng là thuật ngữ dùng để chỉ bệnh lý viêm thành dạ dày, tá tràng, gây ra do sự mất cân bằng giữa yếu tố tấn công trong dịch vị dạ dày như Acid dạ dày, pepsin, vi khuẩn HP,... và yếu tố bảo vệ như chất nhầy, sự tái sinh 

Trào ngược dạ dày thực quản là bệnh gì

Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản (GERD: Gastro Esophageal Reflux Disease) theo hội nghị đồng thuận Châu Á - Thái Bình Dương (năm 2002) là: “Một bệnh lý do chất chứa trong dạ dày thường xuyên trào ngược vào thực quản gây nên các triệu chứng ợ nóng nóng ngực (heart burn) và những triệu chứng khác".

Theo Y học hiện đại (YHHĐ), sinh lý bệnh của GERD là do sự mất cân bằng giữa những yếu tố bảo vệ thực quản và những yếu tố tấn công từ những thành phần của dạ dày.
Chẩn đoán xác định GERD dựa vào các triệu chứng lâm sàng kết hợp nội soi thực quản - dạ dày - tá tràng. Kết hợp sử dụng bộ câu hỏi GIS, RDQ, GERDQ, trong đó bộ câu hỏi GERDQ thường được sử dụng nhất.

Lâm sảng: Điều trị thứ bằng thuốc ức chế bơm proton (PPIs) 4 - 8 tuần. Đây là phương pháp chẩn đoán có độ nhạy cao. Mục tiêu điều trị là giải quyết hết triệu chứng trào ngược, cải thiện chất lượng cuộc sống, làm lành tổn thương, phòng ngừa tái phát viêm thực quản và biến chứng trào ngược. Cách dùng trước ăn sáng từ 30 - 60 phút. Có thể phối hợp với thuốc kháng histamin H2, nếu với liều tiêu chuẩn hoặc liều gấp đôi mà hết các triệu chứng thì được xác định là GERD.

Cận lâm sàng: Dựa vào nội soi dạ dày - thực quản, đo pH thực quản 24h, đo áp lực và nhu động thực quản độ phân giải cao (HRM), pep-test.

- Theo YHCT, GERD không có bệnh danh riêng, tuy nhiên, hầu hết người bệnh đến khám và điều trị GERD thường có triệu chứng nóng rát sau xương ức, ợ chua, nên GERD được quy vào chứng Vị quản thống, bệnh danh là Vị khi nghịch.

Theo đó, các thể lâm sàng thường gặp là

1. Thể ngoại tà phạm vị
Triệu chứng: Ngoại cảm phong hàn hoặc thử thấp xâm phạm Tỳ Vị, biểu hiện sốt, sợ lạnh, đau nhức mình mây, làm trọc khí thượng nghịch gây nôn, đau tức vùng thượng vị, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mòng, mạch phù.

2. Thể Can khí phạm Vị:

2.1. Khí trệ: Triệu chứng: Đau vùng thượng vị từng cơn, đau lan ra 2 mạng sườn, xuyên ra sau lưng, bụng đầy trướng, ấn thấy đau (cự án), ợ hơi, ợ chua, chất lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng mỏng, mạch huyền.

2.2. Hỏa uất: Triệu chứng: Vùng thượng vị đau nhiều, đau rát, cự án, miệng khô đẳng, hay ợ chua, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.

2.3. Huyết ứ: Triệu chứng: Đau dữ dội ở một vị trí nhất định ở vùng thượng vị, cự ản
Gồm hai loại: thực chứng và hư chúng.
  • Thực chứng: Nôn ra máu, ia phân đen, môi đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyển sác, hữu lực (bệnh thể cấp).
  • Hư chứng: Sắc mặt xanh nhợt, người mệt mỏi, chân tay lạnh, môi nhợt, chất lưỡi bệu có điểm ứ huyết, rêu lưỡi nhuận, mạch hư đại hoặc tê sáp (bệnh thể hoàn).

3. Thể Tỳ Vị hư hàn Triệu chứng: Đau vùng thượng vị liên miên, nôn nhiều, mệt mỏi, thích xoa bóp và chườm nóng, đầy bụng, nôn ra nước trong, sợ lạnh, chân tay lạnh, đại tiện phân nát, có lúc táo, rêu lưỡi trắng, chất lười nhợt, mạch hư tế.

đặt hàng
Giao hàng tận nhà toàn quốc, phí giao hàng là 30.000 đồng một đơn hàng

Xem thêm các sản phẩm